Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020

Trách nhiệm giải thích, thông báo, thông tin và đề nghị về trợ giúp pháp lý của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng

   Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT- BTP- BCA- BTC- TANDTC VKSNDTC  ngày 29/6/2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thực hiện một số quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng (gọi tắt là Thông tư liên tịch số 10/2018/TTLT- BTP- BCA- BTC- TANDTC VKSNDTC  ngày 29/6/2018), quy định về trách nhiệm giải thích, thông báo, thông tin và đề nghị về trợ giúp pháp lý như sau:

   1. Giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý

   Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện việc giải thích quyền được trợ giúp pháp lý theo quy định tại Khoản 1 Điều 7 Thông tư liên tịch 10/2018/TTLT- BTP- BCA- BTC- TANDTC VKSNDTC  ngày 29/6/2018:

   Tại thời điểm bắt, tạm giữ người, lấy lời khai, hỏi cung bị can, lấy lời khai của người bị hại, lấy lời khai của đương sự, đương sự nộp đơn trực tiếp tại Tòa án hoặc tại thời điểm gửi thông báo thụ lý vụ án, thông báo thụ lý đơn yêu cầu, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm chuyển cho họ đọc Bản thông tin về người được trợ giúp pháp lý theo Mu số 01 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch 10/2018/TTLT- BTP- BCA- BTC- TANDTC VKSNDTC  ngày 29/6/2018. Trường hợp họ không tự đọc được thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho họ biết.

   Trường hợp họ tự nhận mình là người được trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý và pháp luật về tố tụng. Việc giải thích được thực hiện kịp thời, đầy đủ, bằng ngôn ngữ dễ hiểu để họ hiểu rõ về quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí.

   - Trong tố tụng hình sự: cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm đọc, hướng dẫn cụ thể nội dung và điền thông tin vào Biên bản giải thích về quyền được trợ giúp pháp lý miễn phí của người bị buộc tội, người bị hại, đương sự thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo Mu số 02 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch 10/2018/TTLT- BTP- BCA- BTC- TANDTC VKSNDTC  ngày 29/6/2018. Biên bản giải thích được lưu tại hồ sơ vụ án.

    - Trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính: người tiến hành tố tụng giải thích cho đương sự về quyền được trợ giúp pháp lý.

    Việc khiếu nại liên quan đến giải thích quyền được trợ giúp pháp lý được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng.

    2. Thông báo, thông tin và đề nghị về trợ giúp pháp lý

    Trong tố tụng hình sự, việc thông báo, thông tin và đề nghị về trợ giúp pháp lý được thực hiện như sau:

    Trường hợp thứ nhất: người bị buộc tội, người bị hại, đương sự tự nhận mình là người được trợ giúp pháp lý theo quy định và có yêu cầu trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm để Trung tâm và Chi nhánh thực hiện các quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch 10/2018/TTLT- BTP- BCA- BTC- TANDTC VKSNDTC  ngày 29/6/2018. Việc thông báo được thực hiện theo Mu số 03 ban hành kèm theo Thông tư Thông tư liên tịch 10/2018/TTLT- BTP- BCA- BTC- TANDTC VKSNDTC  ngày 29/6/2018, ghi vào biên bản tố tụng và lưu tại hồ sơ vụ án.

    Đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, ngoài việc thông báo bằng văn bản thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thông báo ngay bằng điện thoại cho Trung tâm, Chi nhánh.

    Trường hợp thứ hai: người bị buộc tội, người bị hại, đương sự tự nhận mình là người được trợ giúp pháp lý và chưa có yêu cầu trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông tin cho Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước để Trung tâm và Chi nhánh thực hiện các quy định tại khoản 4 Điều 3 của Thông tư liên tịch 10/2018/TTLT- BTP- BCA- BTC- TANDTC VKSNDTC  ngày 29/6/2018. Việc thông tin được thực hiện theo Mu số 04 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch 10/2018/TTLT- BTP- BCA- BTC- TANDTC VKSNDTC  ngày 29/6/2018;

   Trường hợp thứ ba: chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội thuộc diện được trợ giúp pháp lý theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (Điều 76 BLTTHS năm 2015), nếu người bị buộc tội, người đại diện hoặc người thân thích của họ không mời người bào chữa thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đề nghị Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước, Chi nhánh của Trung tâm cử ngay người thực hiện trợ giúp pháp lý bào chữa cho họ. Việc đề nghị được thực hiện bằng văn bản thông báo theo Mu số 03 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch 10/2018/TTLT- BTP- BCA- BTC- TANDTC VKSNDTC  ngày 29/6/2018.

    Trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, việc thông báo, thông tin về trợ giúp pháp lý được thực hiện tương tự như trong tố tụng hình sự, trừ trường hợp việc thông báo về trợ giúp pháp lý không phải ghi vào biên bản tố tụng./.

 

                                                                                      Hoàng Thị Hải