Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020
Chế độ ban đêm In trang Xuất PDF Đọc nội dung
-A A +A

Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới

   Bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới là một chính sách an sinh xã hội của Nhà nước nhằm bảo vệ nạn nhân trong vụ tai nạn giao thông do xe cơ giới gây ra đồng thời bảo vệ tài chính cho chủ xe cơ giới trước những rủi ro bất ngờ. Ngày 16/9/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 103/2008/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, Nghị định được sửa đổi, bổ sung năm 2013. Qua hơn 10 năm thực hiện, có nhiều trường hợp đã được nhận hỗ trợ của bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Chính sách này được đánh giá là một trong số các giải pháp hữu hiệu hỗ trợ chủ xe và người bị tai nạn khắc phục thiệt hại, ổn định cuộc sống khi không may xảy ra tai nạn giao thông, góp phần bảo đảm an sinh xã hội.

   Để chính sách phù hợp với tình hình kinh tế xã hội hiện nay và góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, quy định về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới nói riêng, ngày 15/01/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 03/2021/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/3/2021.

   Nghị định này áp dụng với: Chủ xe cơ giới tham gia giao thông và hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Doanh nghiệp bảo hiểm được phép triển khai bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới theo quy định của pháp luật; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thực hiện bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

   Đối với mỗi xe cơ giới, trách nhiệm bồi thường bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới chỉ phát sinh theo một hợp đồng bảo hiểm duy nhất.

   Chủ xe cơ giới và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thỏa thuận tại hợp đồng bảo hiểm về mở rộng điều kiện bảo hiểm, mức trách nhiệm bảo hiểm tăng thêm và mức phí bảo hiểm bổ sung tương ứng, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm tách riêng phần bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới trong Giấy chứng nhận bảo hiểm.

   Các thiệt hại được bồi thường: Thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng và tài sản đối với bên thứ ba do xe cơ giới gây ra; Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của hành khách do xe cơ giới gây ra.

   Hiệu lực bảo hiểm bắt đầu và kết thúc theo thời hạn ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm. Trong thời hạn còn hiệu lực ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm, nếu có sự chuyển quyền sở hữu xe cơ giới, mọi quyền lợi bảo hiểm liên quan đến trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới cũ vẫn còn hiệu lực đối với chủ xe cơ giới mới.

   Giấy chứng nhận bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm chủ động thiết kế, phải bao gồm các nội dung:

  - Tên, địa chỉ, số điện thoại (nếu có) của chủ xe cơ giới.

  - Số biển kiểm soát hoặc số khung, số máy.

  - Loại xe, trọng tải, số chỗ ngồi, mục đích sử dụng đối với xe ô tô.

   - Tên, địa chỉ, số điện thoại đường dây nóng của doanh nghiệp bảo hiểm.

   - Mức trách nhiệm bảo hiểm dân sự đối với bên thứ ba và hành khách.

   - Trách nhiệm của chủ xe cơ giới, người lái xe khi xảy ra tai nạn.

   - Thời hạn bảo hiểm, phí bảo hiểm, thời hạn thanh toán phí bảo hiểm.

   - Ngày, tháng, năm cấp Giấy chứng nhận bảo hiểm.

   - Mã số, mã vạch được đăng ký, quản lý và sử dụng theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ để lưu trữ, chuyển tải và truy xuất thông tin định danh doanh nghiệp bảo hiểm và nội dung cơ bản của Giấy chứng nhận bảo hiểm.

   Giấy chứng nhận bảo hiểm điện tử phải phản ánh đầy đủ các nội dung như Giấy chứng nhận bảo hiểm bản giấy./.

                                                                  Nguyễn Thị Bích Huệ