Skip to main content
Quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020
Chế độ ban đêm In trang Xuất PDF Đọc nội dung
-A A +A

Quy định mới về hướng dẫn cách tính thời gian theo buổi làm việc thực tế và khoán chi vụ việc trợ giúp pháp lý

Ngày 25/5/2021, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 02/2021/TT-BTP về hướng dẫn cách tính thời gian theo buổi làm việc thực tế và khoán chi vụ việc trợ giúp pháp lý. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 7 năm 2021 và thay thế Thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn cách tính thời gian thực hiện và thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, Thông tư số 05/2017/TT-BTP ngày 20 tháng 4 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn cách tính thời gian thực hiện và thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý.

So với Thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn cách tính thời gian thực hiện và thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý và Thông tư số 05/2017/TT-BTP ngày 20 tháng 4 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2013/TT-BTP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn cách tính thời gian thực hiện và thủ tục thanh toán chi phí thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, Thông tư có những điểm mới và nội dung cơ bản như sau:

  1. Bố cục Thông tư

Thông tư gồm 4 Chương và 12 Điều: Chương I: Quy định chung, gồm 02 Điều: Phạm vi điều chỉnh và Đối tượng áp dụng (Điều 1); Nguyên tắc thực hiện (Điều 2). Chương II: Cách tính thời gian theo buổi làm việc thực tế, gồm 6 điều: Thời gian theo buổi làm việc thực tế (Điều 3); Thời gian tham gia tố tụng hình sự (Điều 4); Thời gian tham gia tố tụng dân sự (Điều 5); Thời gian tham gia tố tụng hành chính (Điều 6); Thời gian tham gia đại diện ngoài tố tụng (Điều 7); Cách thức xác định thời gian trong một số trường hợp đặc biệt (Điều 8). Chương III: Khoán chi vụ việc, gồm 02 Điều: Khoán chi vụ việc (Điều 9); Khoán chi vụ việc trong một số trường hợp đặc biệt (Điều 10). Chương IV: Điều khoản thi hành, gồm 02 Điều: Điều khoản chuyển tiếp (Điều 11) Hiệu lực thi hành (Điều 12).

  1. Những nội dung cơ bản của Thông tư

2.1. Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1)

Phạm vi điều chỉnh của Thông tư: Bỏ quy định về cách tính thời gian thực hiện tư vấn pháp luật do theo quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, tư vấn pháp luật được tính theo văn bản; bỏ các quy định về thủ tục thanh toán do đã được quy định tại Điều 15 của Nghị định 144/2017/NĐ-CP. Do vậy, Thông tư chỉ hướng dẫn về cách tính thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý trong các vụ việc tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng.

Về đối tượng áp dụng của Thông tư, Thông tư bổ sung đối tượng áp dụng là: Trợ giúp viên pháp lý; Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý (Luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước); Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý (Tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp); Sở Tư pháp và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

2.2. Nguyên tắc thực hiện (Điều 2)

Thông tư đưa ra 04 nguyên tắc như sau: (1) Bảo đảm phù hợp với quy định của pháp luật về thù lao, bồi dưỡng và thủ tục thanh toán thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc cho người thực hiện trợ giúp pháp lý, tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý; (2) Bảo đảm tính hợp pháp, hợp lý trong việc kê khai thời gian, công việc để làm căn cứ chi trả thù lao, bồi dưỡng thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý; (3) Khi kê khai thời gian, công việc thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý, người kê khai chịu trách nhiệm về tính xác thực của việc kê khai; (4) Khi xác nhận thời gian, công việc của người thực hiện trợ giúp pháp lý, người xác nhận chịu trách nhiệm về tính xác thực của việc xác nhận.

2.3Thời gian theo buổi làm việc thực tế (Điều 3)

Thông tư quy định cách thức xác định thời gian tính theo buổi. Theo đó, buổi làm việc thực tế của người thực hiện trợ giúp pháp lý được tính trên cơ sở 04 giờ làm việc. Trường hợp người thực hiện trợ giúp pháp lý làm việc không đủ 04 giờ thì tính như sau: Tính thành ½ buổi làm việc nếu số giờ làm việc lẻ không đủ 03 giờ; Tính thành 01 buổi làm việc nếu số giờ làm việc lẻ từ đủ 03 giờ trở lên.

Bên cạnh đó, Thông tư  đã bổ sung 01 nội dung liên quan đến cách thức kê thời gian: “3Khi áp dụng cách tính thời gian theo buổi làm việc thực tế, người thực hiện trợ giúp pháp lý phải kê các công việc và thời gian thực hiện các công việc vào Bảng kê thời gian thực tế (Mẫu TP-TGPL-01) ban hành kèm theo Thông tư này”.

2.4. Thời gian tham gia tố tụng hình sự (Điều 4); Thời gian tham gia tố tụng dân sự (Điều 5); Thời gian tham gia tố tụng hành chính (Điều 6)

Về căn cứ để tính thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý đối với vụ việc tham gia tố tụng hình sự: Thông tư bổ sung căn cứ làm việc với người bị buộc tội tại Buồng tạm giữ thuộc Đồn Biên phòng, Nhà tạm giữ, Trại tạm giam, Trại giam; Gặp gỡ với người bị buộc tội tại ngoại; Thông tư cũng bổ sung trường hợp người thực hiện trợ giúp pháp lý đến tham gia phiên tòa nhưng phiên toà hoãn xử mà không phải do yêu cầu của người thực hiện trợ giúp pháp lý và không được báo trước thì tính thời gian người thực hiện trợ giúp pháp lý làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng về nội dung liên quan đến hoãn phiên tòa.

Căn cứ để tính thời gian thực hiện trợ giúp pháp lý đối với vụ việc tham gia tố tụng dân sự, tố tụng hành chính: Thông tư bổ sung căn cứ làm việc với người được trợ giúp pháp lý, những người có liên quan để xác định quan hệ pháp luật tranh chấp; đánh giá các điều kiện khởi kiện, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập; tư vấn hướng dẫn viết đơn khởi kiện, đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đơn phản tố; đơn yêu cầu độc lập, cung cấp chứng cứ cho tòa án; hướng dẫn chuẩn bị hồ sơ khởi kiện hoặc các công việc khác trong giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án; Làm việc với người được trợ giúp pháp lý, các đương sự và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan về nguồn gốc, nội dung tranh chấp, chứng cứ chứng minh hoặc các công việc khác trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; Nghiên cứu hồ sơ và chuẩn bị tài liệu tại Trung tâm, Chi nhánh, tổ chức ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý; Tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự. Đồng thời cũng bổ sung trường hợp người thực hiện trợ giúp pháp lý đến tham gia phiên tòa nhưng phiên toà hoãn xử không phải do yêu cầu của người thực hiện trợ giúp pháp lý và không được báo trước thì tính thời gian người thực hiện trợ giúp pháp lý làm việc với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng về nội dung liên quan đến hoãn phiên tòa.

Thông tư quy định đầy đủ hơn về các chủ thể có thẩm quyền xác nhận thời gian làm việc của người thực hiện trợ giúp pháp lý theo từng công việc khác nhau.

Ngoài ra, Thông tư cũng quy định cụ thể mức thù lao, bồi dưỡng tối đa cho người thực hiện trợ giúp pháp lý khi thực hiện một số công việc đối với vụ việc tham gia tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.

2.5. Thời gian tham gia đại diện ngoài tố tụng (Điều 7)

Về cơ bản, căn cứ xác định thời gian tham gia đại diện ngoài tố tụng được kế thừa theo các quy định tại Thông tư số 18/2013/TT-BTP và Thông tư số 05/2017/TT-BTP.

2.6. Cách thức xác định thời gian trong một số trường hợp đặc biệt (Điều 8)

Đây là nội dung mới so với quy định tại Thông tư số 18/2013/TT-BTP và Thông tư số 05/2017/TT-BTP. Theo đó, Thông tư quy định xác định thời gian trong một số trường hợp đặc biệt bao gồm: Trường hợp 02 người thực hiện trợ giúp pháp lý trở lên thực hiện trợ giúp pháp lý cho 01 người được trợ giúp pháp lý trong cùng một vụ việc theo quy định của pháp luật; Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng tạm đình chỉ vụ án; Trường hợp thay thế, thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý; Trường hợp thực hiện trợ giúp pháp lý cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố, người bị buộc tội ở thời điểm bắt, tạm giữ người, bị hại theo quy định của pháp luật tố tụng.

2.7. Khoán chi vụ việc

2.7.1. Khoán chi vụ việc (Điều 9)

Quy định về khoán chi vụ việc được kế thừa những nội dung còn phù hợp theoThông tư số 05/2017/TT-BTP, đồng thời sửa đổi, bổ sung thêm một số nội dung để bảo đảm tính khả thi và phù hợp với thực tiễn phát sinh khi thực hiện quy định hiện hành. Khoản 1 Điều 9 Thông tư quy định: “Hình thức khoán chi vụ việc chỉ áp dụng đối với vụ việc trợ giúp pháp lý bằng hình thức tham gia tố tụng do người thực hiện trợ giúp pháp lý lựa chọn bằng văn bản ngay sau khi được phân công và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý”.

Thông tư cũng quy định cụ thể về tính chất phức tạp, yêu cầu tố tụng và nội dung của từng vụ việc cụ thể để xác định mức khoán chi vụ việc như sau (Khoản 2 Điều 9):

- Áp dụng quy định về phân loại tội phạm tại khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 20 tháng 6 năm 2017 để xác định mức khoán chi đối với vụ việc tham gia tố tụng hình sự.

Việc phân loại tội phạm phải được áp dụng ngay tại thời điểm lựa chọn hình thức khoán chi vụ việc và căn cứ vào một trong các văn bản đã ban hành của cơ quan tiến hành tố tụng: Quyết định khởi tố bị can, Kết luận điều tra, Cáo trạng, Bản luận tội, Bản án. Trường hợp có nhiều văn bản có tội danh ở các khung hình phạt khác nhau thì áp dụng văn bản có khung hình phạt cao hơn.

- Áp dụng quy định tại khoản 3 Điều 337 Bộ luật tố tụng dân sự và quy định tại Điều 5 Thông tư số 09/2018/TT-BTP ngày 21 tháng 6 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định tiêu chí xác định vụ việc trợ giúp pháp lý phức tạp, điển hình để xác định mức khoán chi vụ việc đối với vụ việc tham gia tố tụng dân sự.

- Áp dụng quy định tại khoản 12 Điều 3 Luật tố tụng hành chính và quy định tại Điều 6 Thông tư số 09/2018/TT-BTP ngày 21 tháng 6 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định tiêu chí xác định vụ việc trợ giúp pháp lý phức tạp, điển hình để xác định mức khoán chi vụ việc đối với vụ việc tham gia tố tụng hành chính.

Khoản 3 Điều 9 quy định về các công việc người thực hiện trợ giúp pháp lý phải thực hiện khi thực hiện khoán chi vụ việc. Phụ lục số 01 (hướng dẫn khoán chi vụ việc tham gia tố tụng hình sự), phụ lục số 02 (hướng dẫn khoán chi vụ việc tham gia tố tụng dân sự) và phụ lục số 03 (hướng dẫn khoán chi vụ việc tham gia tố tụng hành chính) cũng được sửa đổi so với Thông tư cũ nhằm bảo đảm tương đương với các căn cứ tính thời gian thực tế, số buổi khoán đối với các công việc cũng được điều chỉnh bảo đảm ghi nhận đóng góp của người thực hiện trợ giúp pháp lý.

Thông tư cũng quy định về trường hợp 01 vụ việc trợ giúp pháp lý được thực hiện trợ giúp pháp lý qua nhiều giai đoạn tố tụng thể hiện tại các Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư thì mức khoán chi vụ việc được áp dụng theo các giai đoạn nhưng tối đa không quá 10 mức lương cơ sở.

2.7.2. Khoán chi vụ việc trong một số trường hợp đặc biệt (Điều 10)

Thông tư quy định về khoán chi trong một số trường hợp đặc biệt như sau:

- Trường hợp 02 người thực hiện trợ giúp pháp lý trở lên thực hiện trợ giúp pháp lý cho 01 người được trợ giúp pháp lý trong cùng một vụ việc thì căn cứ các công việc thực tế của mỗi người thực hiện, mức khoán chi vụ việc tối đa bằng 130% mức khoán chi tương ứng thể hiện tại các Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư nhưng không quá 10 mức lương cơ sở.

- Trường hợp thực hiện trợ giúp pháp lý cho 01 người được trợ giúp pháp lý bị truy tố 02 tội danh trở lên trong cùng một vụ án thì mức khoán chi vụ việc cho người thực hiện trợ giúp pháp lý được thực hiện như sau:

+ Nếu 02 tội danh có khung hình phạt thuộc 02 loại tội phạm khác nhau, căn cứ các công việc thực tế đã thực hiện, mức khoán chi vụ việc tối đa bằng 130% mức khoán chi áp dụng đối với vụ việc có khung hình phạt thuộc loại tội phạm cao hơn thể hiện tại Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư nhưng không quá 10 mức lương cơ sở.

+  Nếu 02 tội danh có khung hình phạt thuộc cùng 01 loại tội phạm, căn cứ các công việc thực tế đã thực hiện, mức khoán chi vụ việc tối đa bằng 130% mức khoán chi áp dụng đối với vụ việc đó thể hiện tại Phụ lục số 01 ban hành kèm theo Thông tư nhưng không quá 10 mức lương cơ sở.

- Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng tạm đình chỉ vụ án:

+ Khoán chi vụ việc của người thực hiện trợ giúp pháp lý căn cứ vào công việc thực tế mà người thực hiện trợ giúp pháp lý đã thực hiện đến thời điểm tạm đình chỉ;

+  Khi vụ án tiếp tục được giải quyết, khoán chi vụ việc của người thực hiện trợ giúp pháp lý căn cứ vào công việc mà người thực hiện trợ giúp pháp lý đã thực hiện từ khi tiếp tục giải quyết đến khi kết thúc vụ việc.

- Trường hợp thay thế, thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý

+ Khoán chi vụ việc của người bị thay thế, bị thay đổi căn cứ vào công việc thực tế mà người bị thay thế, bị thay đổi đã thực hiện trợ giúp pháp lý đến thời điểm bị thay thế, bị thay đổi;

+ Khoán chi vụ việc của người được cử thay thế căn cứ vào công việc thực tế mà người này đã thực hiện các công việc tiếp theo kể từ khi được cử thay thế.

Thông tư cũng bổ sung nguyên tắc áp dụng phương thức thanh toán trong trường hợp thay thế, thay đổi người thực hiện trợ giúp pháp lý nhằm bảo đảm quyền lựa chọn của người thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của Nghị định số 144/2017/NĐ-CP: Nếu người được cử thay thế lựa chọn hình thức thời gian theo buổi làm việc thực tế thì thù lao, bồi dưỡng cho cả 02 người (người thay thế và người bị thay thế, bị thay đổi) không quá 30 buổi làm việc/01 vụ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 12 năm 2017 quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý”.

Như vậy, Thông tư quy định một số điểm mới phù hợp với tình hình thực tế trong công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, đồng thời góp phần quan trọng trong việc bảo đảm cho người thực hiện trợ giúp pháp lý được thanh toán mức thù lao phù hợp với công sức, thời gian thực hiện vụ việc./.

                                                                                           Hoàng Thị Hải

                                                                           Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước