Cổng thông tin điện tử tỉnh Lạng Sơn

Sở Tư Pháp

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong tuyển dụng, quản lý, sử dụng lao động

Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân quy định: Dữ liệu cá nhân là dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể, bao gồm: dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Dữ liệu cá nhân sau khi khử nhận dạng không còn là dữ liệu cá nhân; Bảo vệ dữ liệu cá nhân là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng lực lượng, phương tiện, biện pháp để phòng, chống hoạt động xâm phạm dữ liệu cá nhân. Đối với doanh nghiệp, việc bảo vệ dữ liệu cá nhân không chỉ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc bảo vệ dữ liệu cá nhân trong tuyển dụng, quản lý, sử dụng người lao động được quy định cụ thể như sau:

  1. Trong tuyển dụng lao động

- Chỉ được yêu cầu cung cấp các thông tin phục vụ cho mục đích tuyển dụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân tuyển dụng phù hợp với quy định của pháp luật; thông tin được cung cấp chỉ được sử dụng vào mục đích tuyển dụng và mục đích khác theo thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật; Không được thu thập dữ liệu cá nhân nhạy cảm của người lao động nếu không thuộc trường hợp pháp luật cho phép hoặc không có căn cứ xử lý hợp pháp. Mọi dữ liệu cá nhân không liên quan trực tiếp đến vị trí tuyển dụng, yêu cầu công việc hoặc điều kiện lao động hợp pháp đều không được phép thu thập, dù ở bất kỳ hình thức nào.

Việc yêu cầu người dự tuyển cung cấp thông tin ngoài phạm vi này bị xem là xử lý dữ liệu cá nhân trái quy định của pháp luật, thuộc hành vi bị nghiêm cấm theo khoản 4 Điều 7 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.

- Thông tin cung cấp phải được xử lý theo quy định của pháp luật và phải được sự đồng ý của người dự tuyển;

- Phải xóa, hủy thông tin đã cung cấp của người dự tuyển trong trường hợp không tuyển dụng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với người đã dự tuyển;

2. Trong quản lý, sử dụng lao động

- Tuân thủ quy định của Luật này, pháp luật về lao động, việc làm, pháp luật về dữ liệu và quy định khác của pháp luật có liên quan;

- Dữ liệu cá nhân của người lao động phải lưu trữ trong thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận;

- Phải xóa, hủy dữ liệu cá nhân của người lao động khi chấm dứt hợp đồng, trừ trường hợp theo thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Việc xử lý dữ liệu cá nhân của người lao động được thu thập bằng biện pháp công nghệ, kỹ thuật trong quản lý người lao động

- Chỉ được áp dụng các biện pháp công nghệ, kỹ thuật phù hợp với quy định của pháp luật và bảo đảm quyền, lợi ích của chủ thể dữ liệu cá nhân, trên cơ sở người lao động biết rõ biện pháp đó;

- Không được xử lý, sử dụng dữ liệu cá nhân thu thập từ các biện pháp công nghệ, kỹ thuật trái quy định của pháp luật.

4. Xử lý vi phạm

Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và quy định khác của pháp luật có liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân thì tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính  tối đa là 3 tỷ đồng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác (Điều 159) hoặc Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 288), Bộ Luật Hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự.

                                                                                                                                          Dương Công Luyện